Giá thép phế Châu Á tăng mạnh
Thị trường thép phế liệu Châu Á đang bước vào giai đoạn biến động mạnh với xu hướng tăng giá chiếm chủ đạo, chịu tác động lớn từ chi phí vận tải khi giá cước vận tải biến động mạnh do xung đột tại Trung Đông và eo biển Hormuz. Mặt bằng giá thép phế ở tất cả các thị trường lớn ở khu vực Châu Á hiện đều cao hơn so với thời điểm cuối năm 2025.
12/03/2026 15:45
Việt Nam
Giá chào thép phế liệu từ thị trường thế giới vào Việt Nam hiện đang tăng mạnh. Ngày 11/3, Platts đánh giá giá giao ngay cho loại thép phế HMS 1/2 80:20 ở mức 360 USD/tấn CFR cảng Phú Mỹ, tăng 10 USD/tấn so với tuần trước. Đây cũng là mức giá cao nhất kể từ đầu năm 2025 cho tới nay, mức giá này cao hơn 13 USD/tấn so với mức giá đỉnh 347 USD/tấn của năm 2025 được ghi nhận vào thời điểm tháng 11/2025. Diễn biến tương tự cũng đang được ghi nhận tại Trung Quốc và Đài Loan khi giá thép phế nhập khẩu vào 2 thị trường này hiện đang ở mức giá cao nhất trong 15 tháng gần đây.
Tham khảo thị trường ngày 11 và 12/3 cho thấy, các chào giá thép phế nguồn Úc vào Việt Nam được ghi nhận ở mức 370 USD/tấn CFR, tăng thêm 10 USD/tấn so với tuần trước. Các chào giá thép phế nguồn Mỹ cũng tăng chạm mốc 375 - 380 USD/tấn CFR.
Các chào giá của thép phế nguồn Nhật Bản vào thị trường Việt Nam được ghi nhận ở mức 355 - 360 USD/tấn CFR hoặc trên 355 USD/tấn CFR, với mức chào giá cạnh tranh nhất đã tăng thêm 6 USD/tấn so với tuần trước. Chào giá thép phế nguồn Nhật Bản cao hơn là do ảnh hưởng bởi kết quả đấu thầu Kanto tháng 3/2026 tăng và giá cước vận tải đang đi lên.
Trước đó, vào ngày 11/3, giá trúng thầu thép phế loại H2 của Kanto được ghi nhận ở mức 50.121 Yên/tấn (tương đương 316 USD/tấn FAS) cho lô hàng 20.000 tấn, tăng 2.083 Yên/tấn (tăng 13 USD/tấn) so với phiên đấu thầu trước đó 1 tháng. Lô hàng 20.000 tấn này được cho là chuyển đến khách hàng tại Bangladesh hoặc Việt Nam, tuy nhiên thị trường Việt Nam đánh giá mức giá trúng thầu này là quá cao. Kết quả này đã phá vỡ ngưỡng 50.000 Yên/tấn lần đầu tiên kể từ tháng 7/2024, khi giá trúng thầu được chốt ở mức 52.168 Yên/tấn.
Nhìn chung, trong ngày 11 và 12/3, hầu hết các đơn chào giá thép phế từ nhiều thị trường khác vào Việt Nam đều ghi nhận tăng từ 5-10 USD/tấn (tương đương từ 130.000 - 264.000 đồng/tấn) hoặc cao hơn so với tuần trước.
Theo Tổng cục Hải quan, giá bình quân thép phế cập cảng Việt Nam tháng 2/2026 là 309,2 USD/tấn, tăng 3 USD/tấn so với giá bình quân tháng 1/2026. Với xu hướng giá đi lên của thị trường thép phế thế giới kể từ đầu năm 2026 cho tới nay, giá các lô thép phế cập cảng về Việt Nam trong thời gian tới sẽ tiếp tục tăng.
Đối với thị trường thép phế nội địa, tiếp theo đà tăng giá của tháng 2 khi giá thép phế nội địa tăng từ 1- 3% so với tháng 1/2026, bước sang tháng 3 giá thu mua thép phế của các nhà máy tiếp tục đi lên. Từ ngày 6/3 cho tới nay giá thép phế nội địa tại cả 3 miền Bắc Trung Nam tăng từ 100.000 – 400.000 đồng/tấn tùy theo khu vực, chủng loại thép phế và chính sách riêng của từng nhà máy ở thời điểm giao dịch.
Trước diễn biến tăng giá của thép phế nguồn nhập khẩu cộng với rủi ro vận tải biển do xung đột tại Trung Đông, rủi ro tăng tỷ giá, ….các nhà sản xuất thép trong nước đang tập trung vào thu mua thép phế tại thị trường nội địa. Từ ngày 6/3 - 12/3, nhiều nhà máy ở khu vực phía Nam đã 2 lần thông báo tăng giá thu mua thép phế.
Tham khảo thị trường ngày 12/3, giá thép phế loại 1 ở miền Bắc phổ biến từ 9,4 - 9,7 triệu đồng/tấn, ở miền Nam từ 8,3 - 9,1 triệu đồng/tấn, miền Trung từ 8,5 – 8,7 triệu đồng/tấn (đây là giá giao tại bên mua, chưa bao gồm VAT).
Trung Quốc
Tại Trung Quốc, giá tăng ở cả mảng thép phế liệu nội địa và nhập khẩu. Cụ thể, giá thép phế nội địa tăng 1,1% (sau khi đã tăng 4,5% trong tháng 1/2026), ước tính đạt 349,2 USD/tấn. Giá thép phế loại HRS101 nhập khẩu vào Trung Quốc ngày 11/3 theo Platts ghi nhận cũng tăng lên mức 377 USD/tấn CFR, tăng 6 USD/tấn cho với một tuần trước và tăng 34 USD/tấn so với đầu năm 2026.
Sau kỳ nghỉ lễ Tết Nguyên đán, nguồn cung thép phế phục hồi chậm hơn so với nhu cầu từ các nhà máy luyện thép bằng lò điện (EAF), giúp hỗ trợ tăng giá thép phế nội địa Trung Quốc. Ngoài ra, động lực tăng giá cũng đến từ việc tái khởi động dần các lò luyện và kỳ vọng tăng cường thu mua thép phế trong tháng 3/2026 của các nhà máy.
Phân khúc nhập khẩu tăng nhanh hơn do giá xuất khẩu của Nhật Bản cao hơn và các yếu tố tiền tệ, mặc dù nhu cầu thực tế vẫn hạn chế do người mua ưu tiên nguyên liệu nội địa.
Nhật Bản
Bắt đầu từ ngày 12/3, Tokyo Steel - nhà sản xuất thép lò điện (EAF) lớn nhất Nhật Bản, đã tăng giá đối với thép phế HMS 2 nội địa thêm 2.000 Yên/tấn (13 USD/tấn) tại tất cả các cơ sở, ngoại trừ bãi vệ tinh Kansai, nơi giá của loại vật liệu này tăng 2.500 Yên/tấn (16 USD/tấn). Trong khi đó, giá quy đổi theo đồng USD lần lượt tăng vọt thêm 10 USD/tấn và 13 USD/tấn, phản ánh sự suy yếu hơn nữa của đồng Yên Nhật. Sau đợt tăng giá này, phế liệu loại H2 giao đến các nhà máy Tahara, Okayama, Kyushu và Utsunomiya của công ty được niêm yết ở mức 48.000 Yên/tấn.
Đợt điều chỉnh này là lần thứ tư kể từ khi chiến dịch tăng giá bắt đầu vào giữa tháng 2/2026. Giá của công ty đối với phế liệu HMS 2 nội địa đã tăng tổng cộng 4.000 - 4.500 Yên/tấn (25 - 28 USD/tấn) tùy thuộc vào từng cơ sở.
Mức tăng đáng kể đối với giá thu mua sắt thép phế liệu tại thị trường nội địa Nhật Bản phản ánh các mốc giá xuất khẩu đang cao hơn đối thép phế nguồn Nhật.
Nhìn chung thị trường thép phế liệu trong nước và quốc tế đang trải qua những biến động mạnh mẽ với xu hướng tăng giá chiếm ưu thế. Xu hướng này đòi hỏi các doanh nghiệp cần có chiến lược quản trị tồn kho linh hoạt để ứng phó với rủi ro chi phí đầu vào đang leo thang.
Trần Hương